Bạn đang ở : Trang chủ Sức khoẻ môi trường Kinh nghiệm về hợp tác công tư (PPP) trong quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

Kinh nghiệm về hợp tác công tư (PPP) trong quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

Email In PDF.

Theo thống kê báo cáo của Bộ Y tế đến năm 2015 cả nước có 13.674 cơ sở y tế (không kể y tế các Bộ, ngành khác và y tế tư nhân),trong đó cơ sở y tế khám chữa bệnh là 1.253 bệnh viện; 180 cơ sở sản xuất dược; 1.137 cơ sở thuộc y tế dự phòng và các trung tâm đào tạo y khoa; trạm y tế tuyến xã (tuyến khám chữa bệnh ban đầu) là 11.104 trạm. Cùng với quá trình gia tăng các cơ sở y tế phục vụ tốt hơn cho nhu cầu khám chữa bệnh của người dân thì vấn đề chất thải phát sinh từ các hoạt động này cũng là một vấn đề nan giải của ngành y tế.

Theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế - Bộ Y tế lượng chất thải rắn y tế phát sinh hàng ngày tại các bệnh viện là 450 tấn/ngày trong đó chất thải y tế nguy hại là 47 tấn/ngày (chiếm 11,7%). Nước thải y tế là 125.000 m3/ngày.đêm. Phần lớn các bệnh viện chọn giải pháp xử lý chất thải rắn y tế bằng phương pháp đốt tại chỗ 60,2%, còn lại thì thuê hợp đồng xử lý với các công ty xử lý chất thải bên ngoài. 58,1% số bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải còn vận hành tốt (trong đó tuyến Trung ương là 73,5%; tuyến tỉnh 60,3% và tuyến huyện là 45,3%).

 


Việc quản lý tốt lượng chất thải phát sinh ra từ hoạt động khám chữa bệnh góp phần bảo vệ môi trường, phòng chống các bệnh tật lây truyền trong cộng đồng là trách nhiệm của ngành y tế và cũng như của toàn xã hội. Mặc dù đã có nhiều văn bản chỉ đạo của chính phủ, nhiều Tiêu chuẩn, Quy chuẩn về các yêu cầu xử lý và đảm bảo an toàn lưu giữ chất thải y tế tuy nhiên trên thực tế công tác này đã và đang gặp rất nhiều khó khăn do vấn đề nguồn lực cho các hoạt động này bị hạn chế. Các bệnh viện hiện tại thực hiện cơ chế tài chính hoạt động theo nghị định số 43 của Chính phủ về tự chủ về tài chính, phần lớn chi phí cho hoạt động quản lý và xử lý chất thải của bệnh viện phải trích từ nguồn hoạt động chuyên môn của các bệnh viện và không được tính đúng, tính đủ vào chi phí khám, chữa bệnh đang tạo áp lực rất lớn cho các cơ sở khám và chữa bệnh. Trên thế giới mô hình hợp tác công tư (Public – Private – Partner) trong quản lý chất thải y tế được áp dụng thành công tại một số nước đang phát triển như:

Kinh nghiệm từ Ấn Độ:

Cũng như Việt Nam, Ấn Độ cũng đã quan tâm đến việc bảo vệ môi trường từ rất sớm thông qua các đạo luật như luật Môi trường có từ năm 1986 và những quy định về quản lý chất thải y-sinh học có từ năm 1998. Tuy nhiên, với dân số tăng rất nhanh cũng như mô hình bệnh tật tương tự các nước đang phát triển (các bệnh lây và không lây đều chiếm tỷ lệ tương đương nhau) gây ra nhiều gánh nặng cho hệ thống y tế và đồng thời là tăng lượng chất thải bệnh viện. Bên cạnh đó, chính phủ Ấn Độ cũng không thể trợ giá cho các bệnh viện trước vấn đề xử lý chất thải bệnh viện. Do đó, việc áp dụng mô hình PPP là hết sức cần thiết để giảm bớt các gánh nặng chi phí cho các bệnh viện công lập cũng như là đảm bảo việc rác thải y-sinh học được xử lý bởi các đơn vị có chuyên môn. Như vậy, vấn đề làm sao để đảm bảo việc quản lý và xử lý rác thải y-sinh học được thực hiện bởi đơn vị tư nhân có uy tín? Do đó, chính phủ Ấn Độ thông qua Sở quản lý y tế và cộng đồng tổ chức đấu thầu để chọn ra đơn vị xử lý rác thải. Trung bình thì một đơn vị trúng thầu thì sẽ ký kết hợp đồng khoảng 5 năm để phụ trách một khu vực nhất định. Chi phí bệnh viện được tính vào chi phí xử lý rác thải y-sinh học theo số giường bệnh được đăng ký mỗi ngày (hiện nay thì chi phí này trung bình vào khoảng 6,50 Rupi/giường bệnh (tương đương với 2.200 VNĐ). Khác với Việt Nam khi vẫn còn đang tiếp tục áp dụng mô hình này một cách chậm chạp thì Ấn Độ đã có tới 190 đơn vị xử lý rác thải để xử lý cho 70% của 500 tấn chất thải y-sinh học thải ra mỗi ngày.

Một câu chuyện khác ở Bangladesh:

Tuy nhiên ở Bangladesh, một quốc gia láng giềng của Ấn Độ thì vấn để quản lý rác thải y tế lại chưa được quan tâm bằng. Cho đến năm 2005 thì Bangladesh vẫn chưa có luật hay quy định nào việc quản lý và xử lý rác thải y tế. Bên cạnh đó, có một cuộc điều tra ở 44 cơ sở y tế tại thành phố Rajshahi thì phần lớn nhân viên y tế ở đây không biết về các mối nguy do rác thải y tế mang lại cũng như là họ cũng phản ánh là không có bất kỳ quy định hay hướng dẫn nào để phân loại và quản lý rác thải y tế. Cho dù sau đó, chính quyền thành phố đã tiến hành can thiệp nâng cao nhận thức của nhân viên y tế về vấn đề này thì việc thực hành vẫn gặp nhiều khó khăn bởi đến nay vẫn chưa có các quy định hướng dẫn rõ ràng, sự thiếu quyết tâm cũng như là thiếu sự hỗ trợ kinh phí để thực hiện. Do đó, hiện nay chính quyền thành phố đang xem xét việc xây dựng mô hình PPP trong quản lý và xử lý rác thải y tế để giải quyết trước mắt là vấn đề kinh phí. Từ đó, bài học ở thành phố Rajshahi này cho thấy, cho dù nhận thức của nhân viên y tế về việc quản lý và xử lý rác thải y tế có được nâng cao, thì việc quan trọng hơn hết là cần có các quy định và hướng dẫn rõ ràng cũng như việc giảm gánh nặng kinh phí cho đơn vị bệnh viện thông qua mô hình PPP đã và đang được áp dụng một cách thành công và rộng rãi ở Ấn Độ. Nhờ đó, cơ sở y tế có thể tiết kiệm được kinh phí và có thể đầu tư vào nguồn nhân lực thông qua huấn luyện hoặc tăng lương để khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn.

Câu chuyện của Việt Nam

Hợp tác công-tư trong xử lý rác thải y tế đã được ngành Y tế và Bộ Kế hoạch – Đầu tư nghiên cứu đề xuất với Chính phủ nhằm tìm kiếm một nguồn lực bền vững cho công tác quản lý và xử lý chất thải y tế tại Việt Nam. Ngày 10 – 04 – 2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định 15/2015/NĐ-CP về các hình thức đầu tư PPP trong đó có nội dung khuyến khích và giao cho ngành y tế chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch - Đầu tư triển khai các dự án đầu tư xử lý chất thải y tế theo hình thức PPP đảm bảo theo lộ trình của chính phủ đến năm 2020 100% chất thải y tế nguy hại được quản lý và xử lý an toàn tại các bệnh viện. Quá trình triển khai thực hiện PPP tại Việt Nam trên thực tế đã được một số các bệnh viện linh động áp dụng trong việc tìm kiếm giải pháp cho quản lý chất thải y tế tại đơn vị mình. Kết quả khảo sát của Cục Quản lý môi trường y tế tại 13 BV (01 BV tuyến TW; 06 BV tuyến tỉnh; 01 Bv tuyến huyện và 05 BV tư nhân) đã triển khai mô hình PPP trên toàn quốc kết quả rất đáng khích lệ như:

-          Hiệu quả, chất lượng xử lý chất thải y tế luôn được tuân thủ đúng các quy định hiện hành, đặc biệt là nước thải luôn đạt các tiêu chuẩn môi trường

-          Các BV triển khai PPP luôn được đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia không có xung đột lợi ích ban đầu, đảm bảo nguyên tắc các bên cùng có lợi.

-          Cơ chế tài chính của dự án theo hình thức PPP tại các BV là khả thi, giảm gánh nặng đầu tư ban đầu cho các BV, thời gian khấu trừ chi phí vận hành máy móc phù hợp với khả năng chi trả của BV

-          Nhà đầu tư không chỉ cung ứng vốn mà còn chuyển giao các phát minh, các công nghệ mới, cũng như kỹ năng quản trị chất thải cho các BV.

Kết quả triển khai mô hình PPP tại một số bệnh viện cũng cho ta thấy những khó khăn trong việc tiếp cận với mô hình này:

-          Các lãnh đạo BV chưa ý thức được đầy đủ được trách nhiệm bảo vệ môi trường, phòng chống các nguy cơ sức khỏe cộng đồng.

-          Tư tưởng ỷ lại trông chờ vào ngân sách nhà nước cho việc đầu tư các hệ thống xử lý chất thải y tế.

-           Suất đầu tư và chi phí vận hành hệ thống xử lý chất thải y tế rất tốn kém, trong khi đó tiền phạt do BV gây ô nhiễm còn thấp, chưa có tính răn đe.

-          Để đầu tư theo hệ thống PPP thời gian hoàn vốn dài, nhiều thủ tục đầu tư kéo dài, làm nản lòng nhà đầu tư và đơn vị thụ hưởng (trung bình 1 dự án PPP cho xử lý chất thải thực hiện mất khoảng 540 ngày).

Một số kết luận và kiến nghị cho mô hình PPP trong quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

1)    Mô hình PPP trong quản lý và xử lý chất thải y tế là hướng đi phù hợp trong giai đoạn hiện nay của nền kinh tế Việt Nam và của các nước đang phát triển.

2)    PPP không phải là phương án duy nhất cho việc quản lý chất thải y tế tại Việt Nam nhưng nó rất quan trọng trong việc góp phần không nhỏ cho việc tìm kiếm nguồn vốn cho hoạt động này.

3)    Chúng ta cũng cần đa dang hóa mô hình PPP với các giải pháp khác để có thể tận dùng tốt các nguồn lực khác nhau và nâng cao hiệu quả xử lý chất thải tại các BV.

4)    Bộ Y tế cần phối hợp với các bộ ngành để nhanh chóng triển khai nghị định 15 về đầu tư PPP theo lĩnh vực phạm vi được quản lý, trước mắt cần có Thông tư hướng dẫn xử lý chất thải theo PPP để các đơn vị có thể áp dụng được.

Bộ Y tế phối hợp với các bộ/ngành liên quan ban hành các văn bản hướng dẫn nguồn ngân sách, nguồn vốn...trong việc tiếp cận PPP.

 

Social Determinants Network

Who's online

Hiện có 82 khách Trực tuyến
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay127
mod_vvisit_counterHôm qua1753
mod_vvisit_counterTuần này13733
mod_vvisit_counterTuần trước26113
mod_vvisit_counterTháng này61255
mod_vvisit_counterTháng trước73810
mod_vvisit_counterTổng cộng10595932

Hôm nay : 24 - 09 - 2017