Bạn đang ở : Trang chủ Sức khỏe lao động-BNN Giám sát sinh học – một giải pháp tối ưu để phát hiện sớm các bệnh nghề nghiệp

Giám sát sinh học – một giải pháp tối ưu để phát hiện sớm các bệnh nghề nghiệp

Email In PDF.

I/ Ðại cương về giám sát sinh học .

1. Các yếu tố nguy cơ của công việc có thể ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Khi người lao động tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp, tình trạng ốm đau và bệnh tật có thể không xuất hiện trong nhiều năm. Có nghĩa là đó có thể là một giai đoạn âm ỉ kéo dài không có bất cứ một triệu chứng gì. Trong khi người công nhân vẫn bị phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ, tác hại nghề nghiệp và thậm chí ngay cả khi đã ngừng tiếp xúc với yếu tố nguy cơ. Khi một công nhân có các dấu hiệu và các triệu chứng của bệnh nghề nghiệp ( BNN ) thì điều đó có nghĩa là anh ta đã bị phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ trong nhiều năm và cả những người công nhân khác cũng đã bị phơi nhiễm.

 

2. Có nhiều BNN là không thể chữa được : như bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn gây ra ( NID). Bụi phổi Amimăng và bụi phổi silic nghề nghiệp thì chiến lược dự phòng là tốt hơn cả. Và đối với dự phòng, các hành động càng sớm hơn được triển khai thì càng tốt.

3. Nhưng các hành động dự phòng sớm hơn được tiến hành như thế nào?

a. Một biện pháp lý tưởng đó là loại trừ toàn bộ các yếu tố nguy cơ ví dụ như bằng cách thay thế sợi Amiang bằng sợi thủy tinh, benzen thì không được phép sử dụng như một chất dung môi.

b. Ðiều này không phải luôn luôn có thể thực hiện được, khi đó các yếu tố nguy cơ phải được tránh và được kiểm soát càng nhiều càng tốt. Ví dụ như khép kín các quy trình và máy móc có phát sinh các yếu tố nguy cơ.

Nếu như bằng các biện pháp như vậy mà vẫn còn một số các yếu tố nguy cơ mà người công nhân vẫn phải phơi nhiễm. Khi đó cần phải xác định có bao nhiêu nguy cơ còn tồn tại bằng các biện pháp đánh giá Vệ sinh được tiến hành định kỳ. Nếu như các đánh giá vệ sinh chỉ ra mức độ ô nhiễm không khí còn ở mức cao thì các biện pháp kiểm soát hơn nữa cần được tiến hành để làm giảm các mức ô nhiễm và bảo vệ người công nhân.

c. Ðánh giá điều kiện vệ sinh còn có những giới hạn.

-          Các quá trình gây ra sự phơi nhiễm có thể chỉ là sự gián đoạn.

-          Mức ô nhiễm không khí chỉ đưa ra những nguy cơ hít phải hơi khí độc còn các đường xâm nhập theo đường ăn uống và da chưa được đề cập tới.

-          Các thiết bị bảo hộ cá nhân có thể bị hư hỏng khiến cho hiệu quả bảo vệ kém đi.

-          Kết quả đánh giá vệ sinh chỉ có thể chỉ ra tình hình ngay tại thời điểm lấy mẫu.

-          Chúng không cho phép đánh giá chính xác sự phơi nhiễm của mỗi công nhân.

-          Giám sát sinh học mâu thuẫn với giám sát vệ sinh.

4. Không phải tất cả công nhân ở trong cùng một vị trí lao động phải cùng chịu phơi nhiễm như nhau

Không phải tất cả công nhân ở trong cùng một vị trí lao động, cùng một điều kiện lao động, chịu cùng một loại tác động hay cùng phải trải qua cùng một nguy cơ. Có các yếu tố riêng cho từng người ( như : tính nhạy cảm, tình trạng sức khỏe … ) và một số yếu tố thích hợp hơn với cách họ làm việc ( ví dụ như ; nhịp thở, tính cơ động của công việc, nghỉ việc … ) những điều này có thể làm giảm bất cứ sự phơi nhiễm của mỗi công nhân, khi những điều này được chỉ ra bằng các giám sát vệ sinh.

Mặc dù các dụng cụ đo liều lượng cá nhân có thể đưa ra một bức tranh tức thời chính xác sự phơi nhiễm thực sự của con người, so sánh với các giám sát cố định trên một khu vực rộng lớn thì nó còn chưa chỉ ra được “liều lượng” thực sự xâm nhập vào cơ thể (Một công nhân có thể mang khẩu trang, mặt nạ chống độc và những công nhân khác có thể mang hoặc có thể không mang chúng một cách thích hợp, ngoài ra như sự vừa vặn của thiết bị bảo vệ với khuôn mặt có thể đóng góp một phần quan trọng).

II. Giám sát sinh học.

Sự phơi nhiễm với môâït chất độc hại có thể dẫn tới kết quả là các chất xâm nhập cơ thể theo các con đường : hít thở - tiêu hóa -  hấp thụ qua da.

Các chất độc sau đó có thể được phát hiện ở trong máu. Giám sát sinh học của các phơi nhiễm nghề nghiệp đối với các hóa chất có nghĩa là đánh giá “liều lượng bên trong” của người công nhân bằng cách xác định :

- Nồng độ của hóa chất hay chất được tạo thành trong quá trình chuyển hóa ở trong các dịch sinh học (thường là trong máu hay nước tiểu).

- Các chỉ số sinh học của các ảnh hưởng (để xác định các sự thay đổi sớm và có thể đảo ngược được) chúng ta hày lấy thí dụ về chì.

1. Giám sát sinh học ở người lao động có tiếp xúc với Chì ( Pb ).

Công nhân bị phơi nhiễm với chì có thể do hít phải bụi chì hoặc có thể chì xâm nhập vào cơ thể bằng đường tiêu hóa do tay bị nhiễm bẩn bởi chì.

Sau khi vào cơ thể, chì được hấp thụ vào máu. Lượng chì máu được chấp nhận như là cách kiểm tra tốt nhất cho việc ước tính mức độ thấm nhiễm. Mối liên quan giữa chì máu và những ảnh hưởng sớm của chì để được biệt rõ để cho phép đánh giá các nguy cơ cho mỗi người bị phơi nhiễm. Mức chì máu cho phép trước đây thường là 70 (g %. Hiện nay giới hạn cho phép đã được hạ thấp là 50 ( g% bởi vì phần ở trên mức này có thể gây ra những ảnh hưởng cho Hemoglobin, hệ thần kinh … đặc biệt là ở những đối tượng bị phơi nhiễm trong một thời gian dài. Nhưng đối với các nữ công nhân mức giới hạn lượng chì máu cho phép được khuyến nghị (đề nghị) chì là 30 (g % bởi vì chì có thể ảnh hưởng tới sự sinh nở (bào thai có thể bị hấp thụ hay ảnh hưởng)

Một phần chì khi vào cơ thể cũng được bài tiết qua nước tiểu. Nhưng lượng chì niệu không đáng tin cậy khi đánh giá mức phơi nhiễm và mức gánh nặng của cơ thể với chì.

Chì có thể gây ra bệnh thiếu máu. Nhưng riêng lượng chì thì không được chính xác, đặc trưng vì bệnh thiếu máu có thể còn do nhiều yếu tố khác gây ra. Tuy nhiên, hiện nay có một sự nhất trí cao là chì máu là một xét nghiệm giám sát ban đầu. Với các biểu hiện ảnh hưởng do chì thì lượng Hemoglobin (Hb) là một xét nghiệm được sử dụng thích hợp và rộng rãi.

Nhiều phương pháp dựa trên các cơ sở ảnh hưởng kìm hãm của chì lên sự tạo máu đã được sử dụng như đo sự bài tiết qua nước tiểu của ALA hoặc Coproporphyrin niệu.

Nhiều biện pháp định lượng chuẩn xác, nhạy hơn sự ức chế men ALA-dehydraza của hồng cầu (ALA - D) và sự tích lũy của protoporphyrin trong hồng cầu đã được đo, lượng protoporphyrin tự do hoặc protoporphyrin-Zn đã được giới thiệu sau này như là những chỉ số đánh giá. Sự ức chế men ALA-D là một ảnh hưởng (tác động) rát nhạy cảm của sự phơi nhiễm với chì. Nó rất đặc hiệu đối với chì. Ðịnh lượng ALA và coproporphyrin niệu đôi khi cũng được áp dụng.

Tần suất giám sát tùy thuộc vào cường độ phơi nhiễm. Sự giám sát sinh học nên được làm khi :

a. Lúc tuyển công nhân :

- Nó như là một “đường cơ bản” (vạch xuất phát) để so sánh liên tục trong tương lai (nhằm phát hiện những thay đổi sớm).

- Ðể kiểm tra khả năng phù hợp, thích ứng với công việc.

Chú ý :  + Lượng chì máu có thể cao do các nguyên nhân khác

+ Lượng Hb (Hemoglobin) có thể thấp vì nhiều nguyên nhân khi đó cần phải được điều trị trước khi làm việc.

b. Lúc Khám sức khỏe đnh kỳ :

Ví dụ như khám 6 tháng một lần để theo dõi phát hiện những sự biến đổi sớm.

2. Giám sát sinh học khi có tiếp xúc các kim loại khác :

Ðối với Hg máu và Hg niệu, mối liên quan giữa sự phơi nhiễm, thấm nhiễm và ảnh hưởng hoàn toàn không đơn giản, sự ước tính đúng đắn một cách hợp lý sự phơi nhiễm và đánh giá các nguy cơ có thể được tiến hành không chỉ ở giá trị giới hạn ở mức mỗicá thể, mà còn phải cả đánh giá mức theo nhóm. Tuy nhiên, một số chuyên gia đã có đề nghị mức giới hạn cho phép là 25 (g/gm Creatinin trong nước tiểu cho thủy ngân vô cơ.

Nồng độ cả Cadmium (Cd)máu và Cd niệu có thể được sử dụng cho giám sát sinh họcđối với phơi nhiễm với Cd. Lượng Cd đưa ra được sư ước tính tốt nhất cho sư phơi nhiễm hiện tại đang xảy ra. Tuy nhiên, nồng độ Cd niệu lại là đánh giá tốt nhất nguy cơ gây hại cho thận của Cd. Sử dụng biện pháp định lượng các protein có trọng lượng phân tử thấp (Beta 2 (icroglobulin) có ở trong nước tiểu có thể điều tra được các dấu hiệu sớm của bệnh thận khi tình trạng tổn thương thận đã xảy ra. Bởi vậy cho nên, đây là một xét nghiệm chẩn đoán tốt hơn so với một phương pháp giám sát trong các điều kiện cảm nhận nghiêm ngặt.

3. Giám sát sinh học khi có tiếp xúc các chất dung môi hữu cơ.

Các dung môi hữu cơ được sử dụng rất phổ biến trong công nghiệp. Các dung môi dễ bị bay hơi vào trong không khí và được công nhân  hít phải.

Chất dung môi có thể được định lượng từ lượng không khí thở ra (thích hợp hơn là không khí trong các phế nang) và thường chúng cũng xuất hiện cả trong máu. Nhưng các giám sát sinh học thì thường là các chất được tạo ra trong quá trình chuyển hóa trong cơ thể. Nồng độ của dung môi cả ở trong không khí thở ra và trong máu chỉ có thể xác định mức phơi nhiễm trong quá trình lấy mẫu do vậy, nhiều mẫu sẽ được yêu cầu ước tính mức thâm nhiễm của toàn bộ một ngày lao động.

Toluen được chuyển hóa rất nhanh chóng trong cơ thể. Có khoảng 80% lượng toluen được hấp thụ sẽ được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng axit Hipuric. Khi cả sự biến hóa sinh vật và sự bài tiết xảy ra nhanh chóng, sự định lượng các chất được tạo ra trong quá trình chuyển hóa trong các mẫu nước tiểu được lấy vào cuối ca lao động là một phương pháp hợp lý, đáng tin cậy để ước tính sự phơi nhiễm trong một khoảng thời gian ngắn ở mức nhóm tiếp xúc. Một tỷ lệ nhỏ toluen được chuyển hóa thành O –cresol và người ta cho rằng định lượng O –cresol trong nước tiểu thì chính xác hơn so với định lượng axit Hippyric .

Styren được chuyển hóa chủ yếu thành axit Mandelic. Người ta đã xác định được có một mối tương quan chặt chẽ giữa nồng độ của styren trong không khí phòng làm việc và axit mandelic có trong nước tiểu.

Phần lớn chất Trichloroethylene hấp thu vào cơ thể được chuyển hóa và bài tiết axit trichloroacetic và trichloroethanol qua nước tiểu . Qua các xét nghiệm nên được tiến hành vào giữa tuần tại thời điểm cuối ca lao động. Các kết quả điều chỉnh theo đơn vị trọng lượng riêng hoặc nồng độ Creatinin niệu. Các công nhân nên kiêng rượu một tuần trước khi được làm xét nghiệm vì kết quả xét nghiệm có thể bị ảnh hưởng (những công nhân sử dụng Phenobarbitan cũng có thể tăng axit trichloroacetic (TCA niệu). Hơn nữa, vì trichloroethylen có thể gây tổn thương gan, các xét nghiệm chức năng gan nên được kiểm tra khi khám sức khỏe tuyển vào làm và các xét nghiệm này nên được làm lại nếu xét nghiệm nước tiểu định kỳ lần kế tiếp có bất thường.

Benzen khi hấp thu vào cơ thể sẽ được chuyển hóa thành phenol và các chất khác, chúng được bài tiết qua nước tiểu. Ðịnh lượng phenol trong nước tiểu có thể ước tính được số lượng benzen đã được hấp thu vào cơ thể nhưng phenol không phải đặc trưng riêng cho benzen vì nó cũng có thể được tạo ra từ Salicylates. Ở mức phơi nhiễm thấp với benzen, xét nghiệm phenol niệu không chính xác. Các nghiên cứu đang được tiến hành định lượng axit t,t mucotic niệu và axit S-phenylmercapturic niệu, là các chất được tạo thành trong quá trình chuyển hóa đặc hiệu của benzen, và chúng có thể xác định được ngay cả ở mức thấp trong nước tiểu.

(Giá trị giới hạn ngưỡng - TLV của benzen đã được hạ xuống từ 30 xuống 10, xuống 5 rồi xuống 1 ppm và bây giờ nó được đề nghị ở mức 1 ppm)

Benzen có thể gây bệnh thiếu máu do bất sản tế bào máu. Do vậy lượng Hemoglobin cần được giám sát.

4. Các chỉ số giám sát sinh học .

Các chất được kiểm tra thường là các dịch sinh học như máu và nước tiểu.

Các xét nghiệm để xác định mức của :

  • Tác nhân : Chì máu, Cadmium niệu .
  • Các chất được tạo ra trong quá trình chuyển hóa ví dụ như phenol niệu, axit trichloroacetic, axit Hippyric …

 

Giám sát sinh học bao gồm các chỉ số có giá trị xác định mức thâm nhiễm của chất độc nhằm ngăn chặn sự gây hại cho sức khỏe.

Trên thực tế có 3 loại chỉ số có thể được sử dụng :

+ Các tác nhân

+ Các chất được tạo thành trong quá trình chuyển hóa của nó

+ Các chỉ số của ảnh hưởng.

Hai chỉ số đầu tiên là các chỉ số của phơi nhiễm. Sử dụng loại chỉ số thứ 3 để chỉ ra những ảnh hưởng tác động sớm có thể hồi phục được. Những kiến thức về mối liên  quan giữa liều lượng của các chất và các ảnh hưởng của nó gây ra là một đòi hỏi cần thiết nếu một chương trình giám sát được đầu tư có hiệu quả.

Giám sát sinh học có thể đánh giá tổng lượng hấp thu của một chất độc từ tất cả các đường (như đường hô hấp, tiêu hóa hay qua da ) cũng như cả với phơi nhiễm không phải nghề nghiệp. Nó cũng có thể chỉ ra sự phơi nhiễm tích lũy và hấp thu tích lũy, có nghĩa là các kết quả có thể chỉ ra những phơi nhiễm trong quá khứ (khác với các đánh giá vệ sinh), nó cũng có thể kiểm tra được tính hiệu quả của khẩu trang, mặt nạ phòng độc và cách sử dụng các dụng cụ đó.

Như vậy, giám sát sinh học là :

a. Ðánh giá được sự phơi nhiễm rõ ràng và riêng lẻ của mỗi công nhân và đánh giá được sự hấp thu các chất độc. Nó xác định được các mức thực sự của cacù chất hoặc các chất tạo thành trong quá trình chuyển hóa của chúng ở trong các dịch sinh học như máu và nước tiểu có nghĩa là ở trong cơ thể   ( liều lượng bên trong).

b. Nó cũng xác định được tổng lượng phơi nhiễm của người công nhân từ tất cả các nguồn như :

+ Nếu như anh ta còn có công việc làm khác với cùng các yếu tố nguy cơ tương tự.

+ Nếu như anh ta phơi nhiễm không phải do nghề nghiệp, như một sở thích riêng.

+ Nếu như lối sống của anh ta, ví dụ như hút thuốc lá có thể góp phần vào hoặc ảnh hưởng tới “các chỉ số”

Tổng lượng phơi nhiễm rất quan trọng để đánh giá, đặc biệt là nếu các nguồn phơi nhiễm không phải do yếu tố nghề nghiệp. Ðiều này cũng có nghĩa là cần phải thận trọng về các kết quả vì các kết quả không phải hoàn toàn do các yếu tố nghề nghiệp gây ra.

c. Nó cũng chỉ ra mức phơi nhiễm và hấp thụ tích lũy, có nghĩa là các kết quả có thể chỉ ra các phơi nhiễm trong quá khứ (khác với đánh giá vệ sinh).

Các giám sát sinh học bổ xung cho các giám sát vệ sinh. Nó đưa ra được những cơ sở để xác định mối quan hệ giữa các mức ô nhiễm không khí của các chất độc và các mức nồng độ của chúng có ở trong các dịch sinh học của cơ thể.

Các giám sát môi trường được đặt ra các mục tiêu kỹ thuật như là kiểm soát sự dò rỉ, kiểm tra sự thông gió, xác định các khu vực lao động có nhiều yếu tố nguy cơ, thu thập và phân loại các thông tin và các cải thiện vệ sinh và sự tuân thủ theo các tiêu chuẩn quy định.

Ðối với sự đánh giá các nguy cơ riêng lẻ, các giám sát sinh học tốt hơn so với giám sát môi trường.

Ðể hoàn thành các giám sát sinh học, các kết quả nhóm của giám sát sinh học có thể được sử dụng.

TS.BS Trịnh Hồng Lân

Khoa Sức khỏe lao động-Bệnh nghề nghiệp

 

Social Determinants Network