Bạn đang ở : Trang chủ An toàn thực phẩm Vận hành an toàn thiết bị phân tích quang phổ hấp thu nguyên tử

Vận hành an toàn thiết bị phân tích quang phổ hấp thu nguyên tử

Email In PDF.

Giới thiệu

Thiết bị AAS và các phụ kiện đã được thiết kế cẩn thận do đó khi sử dụng đúng cách bạn sẽ có trong tay một hệ thống phân tích chính xác, nhanh chóng, linh hoạt và an toàn. Nếu thiết bị được sử dụng không đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất, mức độ an toàn của thiết bị có thể bị suy giảm.

Họat động của thiết bị AAS có thể liên quan đến việc sử dụng khí nén, ngọn lửa và các vật liệu độc hại bao gồm các chất lỏng có tính ăn mòn và chất lỏng dễ cháy. Việc sử dụng không đúng cách, bất cẩn hoặc không có kỹ năng có thể gây ra nguy cơ cháy nổ hoặc những nguy hiểm khác dẫn đến tử vong hoặc các tổn thương nghiêm trọng đối với người sử dụng hoặc gây thiệt hại thiết bị và tài sản. Các hướng dẫn về an toàn thiết bị được trình bày chi tiết trong phần hướng dẫn sử dụng cũng như trên các bảng cảnh báo nằm trong thiết bị. Trước khi sử dụng thiết bị hoặc phụ kiện, bạn cần đọc kỹ các thực hành an toàn. Tuân thủ tất cả các mục thực hành an toàn sau đây sẽ giúp bạn vận hành công cụ một cách an toàn. Đọc kỹ từng chủ đề an toàn trước khi cố gắng thực hiện vận hành thiết bị và luôn vận hành thiết bị phù hợp với những thực hành an toàn tương ứng.

Các mối nguy hại về điện

Các dụng cụ và phụ kiện có chứa những mạch điện, thiết bị và linh kiện hoạt động ở điện áp nguy hiểm. Tiếp xúc với các mạch điện, thiết bị và các linh kiện có thể gây tử vong, chấn thương nặng hoặc đau đớn do điện giật.

Các tấm mạch và nắp được cố định bằng ốc vít và cần phải có những công cụ mở chuyên dụng của kỹ sư hãng cung cấp. Tham khảo hướng dẫn sử dụng hoặc nhãn sản phẩm được cung cấp cùng với máy tính, màn hình, máy in, hệ thống nước làm mát và khí nén để xác định những bộ phận nào mà người sử dụng có thể thao tác được. Sử dụng nguồn điện có điện thế không phù hợp, kết nối sai dây cấp điện của thiết bị hoặc không có dây nối đất có thể gây ra cháy nổ hoặc có khả năng gây điện giật và có thể gây hư hại nghiêm trọng thiết bị và các phụ kiện kèm theo.

Luôn sử dụng hệ thống điện có 3 dây, trong đó có một dây nối đất và hệ thống dây điện phải có công suất thích hợp với mức tải của hệ thống thiết bị.

Không được kết nối trực tiếp thiết bị với nguồn điện chính, chỉ kết nối khi đã kiểm tra điện thế làm việc đã được cài đặt ở thông số phù hợp với hoạt động của các thiết bị.

Hơi nóng, hơi và khói

Hơi nóng, hơi và khói sinh ra bởi ngọn lửa, lò nung và bộ hóa hơi trong kỹ thuật hóa hơi hydride, các nguồn này có thể gây nguy hiểm cho người vận hành thiết bị.

Hơi nóng, hơi và khói có thể được hút ra khỏi thiết bị bởi hệ thống hút khí thải. Thiết bị cần được kết nối vào hệ thống hút khí thải khép kín gồm có quạt hút và ống dẫn. Hệ thống hút phải chuyển các khí thải ra môi trường không khí bên ngoài, không được thải các khí thải của hệ thống này ra trong tòa nhà. Bố trí các ống xả thải sao cho các khí thải không thể tái xâm nhập vào tòa nhà thông qua bất kỳ cửa chính, cửa sổ, hệ thống điều hòa nhiệt độ hay bất kỳ hệ thống thoát khí nào khác. Xây dựng hệ thống phù hợp với các quy định về thoát khí thải tại địa phương.

Hệ thống thoát khí thải phải có khả năng cung cấp hiệu năng thoát khí với lưu lượng ít nhất là 6 m3/phút (200 cfm). Bố trí quạt hút khí ở độ cao cách ngọn lửa ít nhất 3 mét và gần cổng xả nhất có thể. Động cơ quạt hút cần phải được lắp đặt cách xa nguồn khí nóng và không sử dụng các phụ kiện bằng nhựa để tránh tan chảy do nhiệt độ. Đầu ra của ống xả thải cần được gắn van điều tiết thông gió một chiều. Trang bị công tắc nguồn của quạt hút khí tại nơi dễ phát hiện, có ký hiệu nổi bật chỉ rõ tình trạng hoạt động và gần thiết bị chính. Luôn  bật công tắc của quạt hút trước khi vận hành thiết bị.

Sử dụng ống thoát khí loại chống cháy theo tiêu chuẩn hiện hành tại nơi lắp đặt thiết bị. Bố trí hệ thống ống thoát khí cách xa hệ thống báo cháy, vòi chữa cháy tự động và các cảm biến nhiệt. Không được đặt các mối hàn trong phần ống thoát khi có tiếp xúc với khí thải nóng, vì nhiệt độ cao có thể làm chảy các mối hàn.

Định kỳ kiểm tra hệ thống bằng cách sử dụng khói màu để đảm bảo rằng hệ thống hút khí hoạt động.

Khi vận hành thiết bị quang phổ, luôn kiểm tra vị trí đặt ống khói để đảm bảo quá trình hút khí được thông suốt.

Khí nén và bình khí nén

Tất cả các loại khí nén (trừ không khí) đều có thể gây độc nếu chúng rò rỉ ra không khí xung quanh. Ngay cả khi chỉ rò rỉ một lượng nhỏ khí trong hệ thống cấp khí thì sự cố này cũng có thể gây nguy hiểm.

Bất kỳ sự rò rỉ nào (trừ không khí nén) cũng có thể gây cháy nổ, hoặc tạo môi trường nghèo oxy gây ngạt. Những mối nguy này có khả năng gây tử vong, chấn thương nghiêm trọng, gây ngạt, làm bất tỉnh và phá hủy các thiết bị cũng như tài sản.

Bình khí nén cần được lưu trữ và sử dụng theo đúng các quy định về an toàn trong lĩnh vực khí nén tại nơi sử dụng. Bình khí nén phải được lưu trữ và sử dụng theo chiều thẳng đứng. Bảo vệ các bình khí nén trong các giá đỡ hoặc chân đế sao cho các bình khí được cố định chắc chắn. Khu vực chứa bình khí nén cần phải có hệ thống thông gió phù hợp nhằm tránh tích tụ các khí độc hoặc khí gây cháy nổ. Luôn vận chuyển bình khí nén bằng xe đẩy chuyên dụng.

Giữ bình khí mát, đây là quy định chung cho tất cả các loại bình khí nén. Các bình khí có cơ cấu tự động giảm áp nếu nhiệt độ tăng cao quá 52 oC.

Đảm bảo các bình khí đều được dán nhãn rõ ràng, sao cho thể hiện rõ chủng loại khí nén trong bình. Nếu bình khí có nhãn dán không hợp lệ thì tuyệt đối không sử dụng và phản hồi ngay với nhà cung cấp. Cần phải đảm bảo rằng nhân viên vận hành biết rõ loại khí có trong bình trước khi kết nối bình khí với thiết bị.

Nếu không khí nén được cung cấp từ máy nén khí, cần phải loại bỏ toàn bộ hơi nước trước khi dòng khí đi vào các bộ phận sử dụng khí nén. Hơi nước trong không khí có thể ảnh hưởng đến các thiết bị trong bộ phận kiểm soát khí và có tiềm năng gây ra những mối nguy hại.

Chỉ sử dụng các đồng hồ, áp kế, ống dẫn và đầu chuyển đổi đúng chuẩn.

Không được tự ý nạp các bình khí nén.

Cần lưu ý rằng, đối với khí cháy, các ren của bình khí thuộc dạng ren trái. Các bình khí nén của các khí khác thì sử dụng ren phải.

Sau khi kết thúc quá trình vận hành thiết bị, hoặc vào cuối ngày làm việc, phải đảm bảo tất cả các nguồn cấp khí đã được khóa tại bình khí nén.

Ống dẫn khí và các đoạn nối

Ngay cả những lỗ rò nhỏ nhất trong hệ thống cấp khí cũng gây nguy hiểm. Bất kỳ sự rò rỉ nào cũng có thể gây cháy nổ hoặc tạo môi trường khí độc gây ngạt. Những mối nguy này có thể gây chết, chấn thương nghiêm trọng, gây bất tỉnh, gây ngạt và gây tổn hại đến các thiết bị, tài sản.

Chỉ sử dụng các loại van khí, áp kế, ống dẫn và co nối đúng tiêu chuẩn. Nếu có bất kỳ nghi ngờ nào về hệ thống khí, cần báo ngay cho đơn vị cung cấp hoặc đại diện của nhà sản xuất tại địa phương.

Kiểm tra kỹ để đảm bảo các khớp nối và ống dẫn đã được ráp đúng, không bị rò rỉ.

Bố trí các ống dẫn khí tại vị trí an toàn, tránh va đập hoặc bị dẫm lên.

Không sử dụng các ống khí đã hư hỏng hoặc bị bào mòn.

Định kỳ hàng ngày trước khi vận hành thiết bị, tiến hành kiểm tra rò rỉ tại các đầu nối và hàn kín các nơi bị rò. Có thể kiểm tra bằng cọ sơn và nước xà phòng hoặc dung dịch phát hiện rò rỉ. Không bao giờ được sử dụng lửa để kiểm tra rò khí.

Bức xạ cực tím

Bức xạ cực tím sinh ra bởi ngọn lửa, đèn catod rỗng, đèn D2. Bức xạ này gây những tổn thương nghiêm trọng đến mắt và da.

Luôn đeo kính chống bức xạ đạt tiêu chuẩn để bảo vệ mắt khỏi tia cực tím. Không bao giờ được nhìn trực tiếp vào ánh sáng phát ra từ đèn catod rỗng.

Khi sử dụng ngọn lửa, luôn vận hành thiết bị khi đã đóng tấm chắn lửa, bật quạt hút và gắn bảng đậy bộ phun sương.

Hình 1: Các bảng cảnh báo

VẬN HÀNH NGỌN LỬA

Các dung môi dễ cháy

Khi kỹ thuật viên không được huấn luyện, bất cẩn sử dụng các dung môi dễ cháy trong khu vực vận hành thiết bị quang phổ hấp thu nguyên tử sẽ gây ra mối nguy cháy nổ. Khi sự cố xảy ra sẽ gây tử vong hoặc chấn thương nghiêm trọng cho bản thân và những người xung quanh.

Luôn nhớ rằng việc kết hợp giữa ngọn lửa trong thiết bị và dung môi dễ cháy luôn gây ra mối nguy cháy nổ tiềm tàng. Do đó, cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn cháy nổ trong quá trình làm việc.

Nhằm hạn chế rủi ro cháy nổ có thể xảy ra, cần phải ghi nhớ những lưu ý sau:

- Khi lựa chọn dung môi hữu cơ, trong số các dung môi thích hợp cho quy trình phân tích, nên chọn những dung môi có điểm bắt cháy cao.

- Không được sử dụng những dung môi có khối lượng riêng nhỏ hơn 0,75.

- Không để các bình chứa dung môi dễ cháy không được đậy kín gần ngọn lửa. Khi cần thao tác với các dung môi này trong khu vực vận hành thiết bị, luôn sử dụng bình chứa có nắp kín và hút mẫu bằng ống mao quản có đường kính 2 mm và đặt trong buồng kín. Nên sử dụng càng ít dung môi hữu cơ càng tốt.

-  Luôn sử dụng các ống chống dung môi như cao su nitril cho bộ hút mẫu, đường nước thải và đường khí thải. Dẫn ống nước thải vào bình thải loại có cổ rộng. Thông thường, các ống tiêu chuẩn được cung cấp kèm theo máy sẽ không phù hợp cho dung môi hữu cơ hoặc các hơi hữu cơ. Nếu các dung môi hữu cơ hay dung môi độc hại được dùng trong bộ phun sương, cần phải kết nối ống thoát khí vào lỗ thoát khí trong bộ bẫy chất lỏng, dẫn ống này song song với ống nước thải và đi vào hệ thống xử lý khí thải. Không được dẫn ống thoát khí thải vào bình chứa nước thải. Nếu dung dịch phân tích không chứa dung môi hữu cơ và các chất độc hại khác, chỉ cần để mở đường thoát khí thải.

- Sử dụng bình chứa nước thải loại nhỏ, miệng rộng và thường xuyên xả bỏ chất thải trong bình, không được tích lũy một lượng lớn các chất dễ cháy trong bình. Không được sử dụng bình thủy tinh, chỉ dùng các bình làm bằng vật liệu chịu dung môi và chịu nhiệt trong trường hợp hiện tượng cháy ngược xảy ra. Các bình chứa bằng kim loại thường có khả năng bị ăn mòn và cũng khó quan sát được mức dung dịch trong bình. Cần đảm bảo rằng bình thải được bố trí nằm thấp hơn thiết bị và đặt tại nơi thoáng khí, trống trải và dễ quan sát. Không được đặt bình thải tại những không gian kín, hẹp.

- Sau khi hoàn tất quá trình vận hành thiết bị, hoặc vào cuối ngày làm việc, luôn xả hết chất thải và rửa sạch bình thải. Đồng thời, lau sạch và châm đầy bẫy chất lỏng bằng nước cất.

- Không được trộn lẫn acid nitric hoặc perchloric với các dung môi hữu cơ.

- Luôn giữ cho đầu đốt, bộ phun sương và bẫy chất lỏng được sạch sẽ.

- Luôn sử dụng nút đánh lửa của thiết bị để bật ngọn lửa, ngọn lửa sẽ không bật được nếu các cơ cấu an toàn trong thiết bị không được đảm bảo.

Hình 2: Sơ đồ lắp đặt hệ thống thải

Khí nén và bình khí nén trong thiết bị ngọn lửa

Thiết bị F-AAS chỉ được sử dụng với không khí, nito oxit và acetylene.

Không được sử dụng khí oxy hoặc không khí làm giàu oxy để làm khí oxy hóa bởi vì tỷ lệ oxy quá cao sẽ gây nổ.

Không được sử dụng các khí khác ngoài acetylene để làm khí đốt.

Acetylene

Kỹ thuật viên không được đào tạo hoặc sự bất cẩn trong quá trình vận hành thiết bị với khí acetylene là một mối nguy tiềm ẩn trong vấn đề cháy nổ.

Sử dụng khí acetylene có áp suất đầu ra thấp hơn 105 kPa (15 psig). Tại áp suất cao hơn mức này, khí acetylene sẽ tự nổ. Thiết bị AAS thường được thiết kế để vận hành với khí nhiên liệu có áp suất trong khoảng 65 – 100 kPa (9,5 – 14, 5 psig).

Không sử dụng các loại ống và co nối bằng vật liệu có phản ứng hóa học với acetylene. Không sử dụng ống dẫn và co nối bằng đồng hoặc đồng thau hay bất cứ vật liệu gì chứa nhiều hơn 65% đồng bởi vì phản ứng hóa học xảy ra có thể kích nổ khí acetylene. Không được để khí acetylene tiếp xúc trực tiếp với đồng, bạc, thủy ngân lỏng, khí clo, dầu mỡ, bởi vì có thể gây nổ.

Chỉ sử dụng loại khí acetylene được nén cùng với acetone. Một số nhà cung cấp còn nén acetylene với các vật liệu khác ngoài acetone. Sự thay đổi này giúp cải thiện các nhược điểm của acetone (dễ gây cháy ngược khi dung lượng bình thấp), tuy nhiên các vật liệu này có thể gây ăn mòn hệ thống điều khiển khí và do đó không thích hợp trong sử dụng cho thiết bị AAS.

Nếu áp suất của bình khí acetylene (dung lượng bình) thấp hơn 700 kPa (100 psig) hoặc lượng tiêu thụ nhiều hơn 1/7 lượng khí trong bình trong 1 giờ, acetone có thể đi theo dòng khí nén vào hệ thống thiết bị. Acetone có khả năng phá hủy các nút chặn, O-ring, ống dẫn khí, làm giảm hiệu năng phân tích và gây cháy ngược.

Giảm thiểu lượng acetone lẫn vào dòng khí acetylene bằng cách:

- Thay bình khí nén khi áp suất dung lượng giảm xuống dưới 700 kPa

- Điều chỉnh lưu lượng dòng khí acetylene ra khỏi bình phù hợp với yêu cầu của thiết bị, tránh tình trạng lưu lượng ra quá lớn

Trong trường hợp sử dụng lượng lớn acetylene, cần kết nối song song 2 hay nhiều bình vào bộ trộn. Bằng cách này, có thể giảm được lưu lượng của dòng khí ra khỏi bình.

Để giảm thiểu nguy cơ cháy nổ cần phải:

- Kiểm tra thường xuyên hệ thống dẫn khí để phát hiện rò rỉ, thực hiện bằng dung dịch xà phòng hoặc dung dịch chuyên dụng

- Kiểm tra chất lượng khí trước khi dùng bằng cách mở nhẹ van bình khí và kiểm tra xem có bất kỳ giọt hay sương acetone. Nếu phát hiện acetone, cần phản ánh với nhà cung cấp và đổi trả lại bình khí.

Sử dụng acetylene có độ tinh khiết ít nhất là 99,5%.

Khóa chặt van bình khí acetylene sau khi sử dụng xong.

Nito oxid N2O

Trong quá trình sử dụng, việc giảm áp khí tại van điều áp sẽ làm giảm nhiệt độ và có thể gây đóng băng van điều áp, hiện tượng này có thể dẫn đến phá hủy van điều áp và gây cháy ngược. Để phòng tránh, khí trong đường ống cần được làm ấm hoặc bọc bên ngoài đường ống một bộ gia nhiệt.

Đầu đốt

Kỹ thuật viên chưa được huấn luyện hoặc sự bất cẩn có thể là tiềm ẩn gây cháy nổ làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của nhân viên cũng như phá hủy các thiết bị và vật tư.

Bất kể khi nào thao tác với đầu đốt, nên nhớ rằng đầu đốt có nhiệt độ rất cao, do đó cần sử dụng găng cách nhiệt khi thao tác.

Đầu đốt sử dụng cho các loại khí đốt khác nhau có hình dáng rất khác biệt, do đó cần phải nhận biết và sử dụng đúng loại đầu đốt trong từng trường hợp. Không được sử dụng đầu đốt dùng cho không khí thay thế cho đầu đốt dùng cho khí N2O, bởi vì sẽ gây ra hiện tượng cháy ngược.

Luôn sử dụng acetylene làm khí nhiên liệu / khí cháy.

Đối với khí oxy hóa, chỉ sử dụng không khí hoặc N2O. Không được sử dụng oxy hoặc không khí làm giàu oxy bởi vì sẽ gây cháy ngược.

Không được thay đổi kết cấu của bộ giá đỡ đầu đốt, không sử dụng đầu đốt có thiết kế khác với đầu đốt tiêu chuẩn cung cấp kèm theo máy.

Nhằm giảm thiểu khả năng tắc nghẽn đầu đốt, thường xuyên làm sạch và loại bỏ các điểm rỗ trên khe đốt.

Không được sử dụng đầu đốt bị tắc nghẽn. Đầu đốt bị tắc sẽ gây tăng áp suất trong bẫy chất lỏng, áp suất này tăng dần sẽ làm hỏng các nút chặn gây rò rỉ, cháy ngược dẫn đến cháy nổ.

Không được để muội than đóng trên đầu đốt, muội than khi rơi vào khe đốt sẽ gây cháy ngược.

Tắt ngọn lửa trước khi làm vệ sinh đầu đốt. Không lau đầu đốt khi ngọn lửa vẫn còn cháy.

Luôn giám sát thiết bị khi ngọn lửa đang bật.

Ống phun sương

Lắp ráp nhầm lẫn các bộ phận trong bộ phun sương có thể gây nguy cơ cháy nổ làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người sử dụng, gây hư hỏng các thiết bị và tài sản.

Trước khi bật ngọn lửa cần đảm bảo rằng ống phun sương đã được lắp đúng và chặt vào buồng tạo sương. Cần phải điều chỉnh ống phun sương đúng vị trí thích hợp trước khi bật ngọn lửa.

Không được rút ống phun sương ra khỏi buồng tạo sương trong khi ngọn lửa đang bật, không sử dụng các thiết bị cơ học (chẳng hạn như dây kim loại) để làm sạch đường mao quản trong ống phun sương trong khi ngọn lửa đang bật. Phải tắt ngọn lửa trước khi thao tác với ống phun sương.

Thường xuyên kiểm tra các khớp nối trong bộ phun sương để đảm bảo không có rò rỉ, nếu phát hiện thì phải điều chỉnh trước khi bật ngọn lửa.

Bẫy chất lỏng

Bẫy chất lỏng được thiết kế phù hợp với hoạt động của thiết bị AAS, không được tự ý thay đổi kết cấu hoặc sử dụng các loại bẫy chất lỏng có thiết kế khác với thiết kế tiêu chuẩn.

Bẫy được thiết kế để chứa được các chất lỏng có tỷ trọng lớn hơn 0,75 trong điều kiện bình thường. Không được sử dụng các dung dịch có tỷ trọng thấp hơn 0,75; các dung dịch này có khả năng tràn qua các mối nối của bẫy. Khi hiện tượng tràn dung dịch xảy ra, có thể dẫn đến các nguy cơ cháy nổ do quá trình cháy ngược.

Cần có một dây dẫn kết nối đầu xả nước thải của bẫy vào bình chứa nước thải. Đầu ra của dây dẫn cần nằm cao hơn mực dung dịch trong bình thải. Không được sử dụng bình nước thải bằng thủy tinh, chỉ sử dụng bình thải chuyên dụng, chống dung môi và không vỡ khi xảy ra tình trạng cháy ngược.

Khi phân tích các mẫu có dung môi hữu cơ hay các chất độc, cần lắp ống thoát khí vào van khí thải của bẫy dung môi. Ống thoát này cần được dẫn song song với dây nước thải và có độ dốc lớn để các chất lỏng trong ống có thể thoát ra ngoài tránh gây tắc nghẽn. Không được cắm ống khí thải vào bình chứa nước thải. Trong trường hợp các chất có tính độc cao hay dung môi dễ bắt cháy, có thể sử dụng hệ thống hút khí thải riêng, có hoạt tính hấp thu khí thải để loại bỏ các khí này.

Các mối nguy do nhiệt

Ngọn lửa, đầu đốt và các bề mặt nóng có khả năng gây bỏng cho người sử dụng.

Khi sử dụng hệ thống F-AAS, luôn phải đóng nắp chắn ngọn lửa và gắn các bảng che an toàn vào đúng vị trí. Không thao tác tại các vị trí gần ngọn lửa trong lúc thiết bị đang hoạt động.

Khi vận hành thiết bị, cần kiểm tra trước xem quạt hút đã hoạt động chưa và van quạt hút đã được chuyển sang vị trí mở chưa. Khi thao tác với ống khói hút khí thải, trước tiên phải tắt ngọn lửa và đợi ống khói nguội.

Khi thao tác với đầu đốt, phải lưu ý rằng đầu đốt có thể rất nóng và do đó cần sử dụng găng tay cách nhiệt.

Acid Perchloric

Hơi acid perchloric hoặc các muối perchlorate khi tiếp xúc với ngọn lửa nito oxide – acetylene có thể gây nổ gây nguy hiểm đến tính mạng và tài sản, có thể gây điếc hoặc điếc tạm thời.

Không được sử dụng acid perchloric ngoại trừ trường hợp bắt buộc do yêu cầu của phương pháp. Trong trường hợp bắt buộc sử dụng, một số biện pháp sau có thể giảm thiểu khả năng gây nổ:

- Thay thế ngọn lửa nito oxide bằng không khí.

- Giảm hàm lượng perchloric acid và kim loại đến mức thấp nhất có thể trong tất cả các dung dịch phân tích. Giảm hàm lượng perchloric acid bằng cách hạn chế lượng sử dụng trong giai đoạn phân hủy mẫu kết hợp với đun mẫu sau khi phân hủy để bay hơi perchloric acid.

- Giảm thời gian phân tích cho từng mẫu đến mức thấp nhất có thể.

- Rửa nước sau khi phân tích mỗi mẫu, giảm thiểu tối đa thời gian không khí đi vào bộ phun sương.

- Sử dụng riêng bộ phun sương, buồng phun sương, bẫy dung dịch, bình chứa nước thải cho phương pháp phân tích có perchloric acid và phương pháp phân tích sử dụng dung môi hữu cơ. Biện pháp này nhằm tránh sự phản ứng giữa dung môi hữu cơ và perchloric acid.

- Khi sử dụng phương pháp chiết bằng dung môi hữu cơ, và dung dịch đem đo có cả hai pha là acid perchloric và dung môi hữu cơ, không được để ống mao quản hút mẫu cắm vào pha nước và hút nhằm acid perchloric vào trong bộ phun sương.

- Khi phân tích các mẫu có chứa perchloric acid, cần sử dụng trang thiết bị bảo vệ tai và mắt, và đảm bảo rằng các nắp an toàn của thiết bị đã được lắp đúng vị trí.

Cháy ngược

Hiện tượng cháy ngược xảy ra khi một hỗn hợp khí gây nổ xuất hiện trong buồng phun sương, có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến hiện tượng này. Tuy nhiên, thiết bị AAS đã được thiết kế để hạn chế tối đa sự cố này, hơn nữa, nếu tuân thủ đúng hướng dẫn của nhà sản xuất thì hầu như hiện tượng cháy ngược không thể xảy ra. Tuy nhiên đôi khi sự cố này vẫn xảy ra, nhưng các thiết kế an toàn của thiết bị AAS sẽ đảm bảo hạn chế tối đa các hư hại có thể xảy ra.

Theo kinh nghiệm trong nhiều năm của nhà sản xuất, hiện tượng cháy ngược thường xảy ra do một hoặc nhiều các nguyên nhân sau. Các nguyên nhân được trình bày sau đây sẽ giải thích rõ cơ chế gây cháy ngược cũng như biện pháp khắc phục:

- Luôn giữ đầu đốt sạch. Các cặn rắn bám trên đầu đốt hoặc khe đốt phải được loại bỏ, vì các chất này sẽ làm tắc nghẽn ngọn lửa gây tăng áp suất trong buồng phun sương dẫn đến phá vỡ các nút chặn của bẫy chất lỏng. Một nguyên nhân khác đó là các chất cặn trên đầu đốt có thể tồn tại ở dạng dễ cháy, khi các hạt rắn này rơi vào buồng phun sương sẽ gây cháy hỗn hợp khí gas trong buồng. Để làm sạch đầu đốt, không nên sử dụng vật cứng để cạo sạch các hạt muội than bám trên đầu đốt, do thao tác này có thể làm rơi các hạt than vào khe đốt rồi đi vào buồng phun sương. Khi sử dụng dung môi hữu cơ trong phân tích, nên giảm lưu lượng hút mẫu nhằm hạn chế lượng dung môi dễ cháy đi vào ngọn lửa.

- Bề rộng đầu đốt không được vượt quá giới hạn an toàn của nhà sản xuất [Mark VIA: 0,47 mm (0,0185 in.) dùng cho N2O; Mark 7 0,46 mm (0,0181 in.) dùng cho N2O; hoặc 0,54 mm (0,021 in.). Chỉ cần tăng một ít chiều rộng của đầu đốt cũng đủ làm gia tăng rõ rệt nguy cơ gây cháy ngược. Khe đốt cần được làm sạch thường xuyên, và phương pháp làm sạch phải tuân thủ hướng dẫn của nhà sản xuất.

- Cần đảm bảo buồng phun sương và bẫy chất lỏng luôn sạch. Nếu trong trường hợp phân tích các dung dịch dơ như dầu máy,… cần đảm bảo rằng buồng phun sương, bẫy chất lỏng, ống xả thải được làm sạch thường xuyên và được rửa bằng dung môi phù hợp giúp tống hết các chất cặn ra khỏi hệ thống.

- Cần đảm bảo các miếng đệm dùng trong đầu đốt, ống phun sương còn tốt, không bị hư hại. Các miếng đệm trong buồng phun sương khi bị hư hại sẽ làm rò rỉ khí gas dễ cháy, khí này sẽ bắt cháy bởi ngọn lửa ở đầu đốt và làm cháy buồng phun sương. Các miếng đệm trong ống phun sương nếu bị hư sẽ làm rò rỉ khí oxi hóa, dẫn đến giảm lưu lượng dòng khí đi vào khe đốt và làm gia tăng khả năng xảy ra cháy ngược.

- Bẫy chất lỏng cần phải được châm đầy bằng dung dịch giống như dung dịch sử dụng trong suốt quá trình phân tích cho cả chuẩn và mẫu.

- Ống xả thải phải được gắn chặt với ống xả ở bẫy chất lỏng, và có độ dốc cao dẫn thẳng xuống bình chứa thải, độ dốc lớn sẽ giúp dòng chất thải đi vào bình thải dễ dàng. Đầu cắm vào bình thải của ống xả thải không được nằm dưới mực dung dịch trong bình. Nếu ống xả thải được cắm cố định thì cần thường xuyên kiểm tra đảm bảo dung dịch không dâng cao ngập qua khỏi ống xả thải. Khi sử dụng dung môi hữu cơ hoặc dung môi có tính độc cao, một ống xả khí cần được gắn vào đầu xả khí của bẫy chất lỏng. Ống này cũng được dẫn dốc xuống bình thải theo hướng song song với ống xả nước thải, độ dốc lớn giúp ngăn chặn hiện tượng các hạt chất lỏng làm nghẽn ống xả khí. Tuy nhiên, ống xả khí thải không được cắm vào bình thải mà phải được dẫn vào một hệ thống hút khí thải riêng biệt, có đủ khả năng xử lý các dung môi hữu cơ và chất độc. Tóm lại, cần phải kiểm tra hệ thống thoát chất thải thường xuyên, bởi vì sự tắc nghẽn trong hệ thống thải sẽ có thể làm quá áp buồng tạo sương gây cháy ngược.

- Đối với khí N2O, do khí được nén thành dạng lỏng trong các bình khí nén, khi đi qua van điều áp, quá trình chuyển pha sẽ làm lạnh van điều áp từ đó hình thành băng đóng bên ngoài van và gây hư hỏng cho van, hoặc làm van hoạt động kém chính xác. Khắc phục hiện tượng này bằng cách sử dụng bộ gia nhiệt cho van điều áp.

- Do acetylene không phù hợp để nén trong bình tại áp suất cao, khí acetylene dùng cho máy AAS được trữ ở dạng hòa tan trong acetone. Nếu khí acetylene được sử dụng quá nhanh, hoặc áp suất trong bình thấp hơn 700 kPa, acetone sẽ bị hút ra khỏi bình, và khi lượng acetone thoát ra đạt đến một mức nhất định sẽ bắt đầu gây giảm hiệu năng của thiết bị rồi tiếp theo sẽ gây ra cháy ngược.

- Hạn chế tối đa các phương pháp xử lý mẫu sử dụng perchloric acid. Do acid này sẽ hình thành các dạng muối chlorate kém bền, dễ gây nổ. Nếu bắt buộc phải dùng perchloric acid, cần hạn chế tối đa lượng acid đi vào hệ thống và phải lau sạch đầu đốt, buồng tạo sương, bẫy chất lỏng trước khi sử dụng. Sau khi sử dụng xong thiết bị, cần rửa sạch toàn hệ thống để loại bỏ hoàn toàn các muối chlorate kém ổn định.

- Các dung dịch có tính kiềm và chứa hàm lượng Ag, Cu cao có thể hình thành các hợp chất acetylide kém bền, có thể phân hủy bất ngờ gây cháy ngược.

NGUYÊN TỬ HÓA BẰNG ỐNG THAN CHÌ VÀ HIỆU ỨNG ZEEMAN

Khí gas

Hệ thống cung cấp khí cho ống than chì được thiết kế để vận hành bằng khí gas trơ và không khí.

Không được sử dụng khí hydro tinh khiết trong phương pháp GF-AAS, do có thể xảy ra rò rỉ và gây nổ khi lượng hydro tích tụ đủ lớn. Kỹ thuật viên có thể sử dụng loại khí nén hỗn hợp được tạo sẵn chứa 95% Ar hoặc N2 và 5% H2. Không được sử dụng bộ trộn khí để tạo ra hỗn hợp này.

Mối nguy do nhiệt độ cao

Nhiệt độ cao của ống than chì có thể gây bỏng. Không được chạm tay vào bộ phận nguyên tử hóa của thiết bị khi thiết bị đang hoạt động.

Khi thao tác với ống than chì, hoặc các bộ phận khác của bộ nguyên tử hóa, cần để các bộ phận này nguội hẳn.

Hơi và khí thải

Không để đầu gần ống than chì đang trong quá trình hoạt động. Hành động này có thể làm kỹ thuật viên bị nhiễm độc do hít phải các khí độc, hoặc gây chấn thương mắt và da do tiếp xúc với các khí ăn mòn.

Ống khói hút khí và các bộ phận khác của hệ thống hút khí thải cần phải đặt đúng vị trí khi thiết bị GF-AAS hoạt động nhằm đảm bảo các khí độc và hơi nóng được hút vào hệ thống.

Bức xạ tử ngoại

Khi quan sát các giai đoạn trong quá trình hoạt động của thiết bị GF-AAS, cần phải quan sát thông qua gương quan sát bên hông máy hoặc qua camera lắp trong máy. Không bao giờ xem trực tiếp, đặc biệt là trong giai đoạn tro hóa và nguyên tử hóa.

Từ trường (trong trường hợp thiết bị có gắn bộ Zeeman)

Từ trường sinh ra đạt mức 0,8 Tesla trong quá trình vận hành của thiết bị. Nhằm tránh các sự cố gây ra do từ trường làm hỏng máy trợ tim hoặc các thiết bị lưu trữ bằng từ trường, luôn giữ khoảng cách với nguồn từ trường của bộ Zeeman ít nhất 300 mm.

Ths Nguyễn Hữu Phát - Trung tâm Kiểm nghiệm An toàn thực phẩm khu vực phía Nam

Biên dịch từ tài liệu Agilent 240/280 Series AA (including Zeeman) User’s Guide

Giới thiệu
Thiết bị AAS và các phụ kiện đã được thiết kế cẩn thận do đó khi sử dụng đúng cách bạn sẽ có trong tay một hệ thống phân tích chính xác, nhanh chóng, linh hoạt và an toàn. Nếu thiết bị được sử dụng không đúng cách theo hướng dẫn của nhà sản xuất, mức độ an toàn của thiết bị có thể bị suy giảm.
Họat động của thiết bị AAS có thể liên quan đến việc sử dụng khí nén, ngọn lửa và các vật liệu độc hại bao gồm các chất lỏng có tính ăn mòn và chất lỏng dễ cháy. Việc sử dụng không đúng cách, bất cẩn hoặc không có kỹ năng có thể gây ra nguy cơ cháy nổ hoặc những nguy hiểm khác dẫn đến tử vong hoặc các tổn thương nghiêm trọng đối với người sử dụng hoặc gây thiệt hại thiết bị và tài sản. Các hướng dẫn về an toàn thiết bị được trình bày chi tiết trong phần hướng dẫn sử dụng cũng như trên các bảng cảnh báo nằm trong thiết bị. Trước khi sử dụng thiết bị hoặc phụ kiện, bạn cần đọc kỹ các thực hành an toàn. Tuân thủ tất cả các mục thực hành an toàn sau đây sẽ giúp bạn vận hành công cụ một cách an toàn. Đọc kỹ từng chủ đề an toàn trước khi cố gắng thực hiện vận hành thiết bị và luôn vận hành thiết bị phù hợp với những thực hành an toàn tương ứng.
Các mối nguy hại về điện
Các dụng cụ và phụ kiện có chứa những mạch điện, thiết bị và linh kiện hoạt động ở điện áp nguy hiểm. Tiếp xúc với các mạch điện, thiết bị và các linh kiện có thể gây tử vong, chấn thương nặng hoặc đau đớn do điện giật.
Các tấm mạch và nắp được cố định bằng ốc vít và cần phải có những công cụ mở chuyên dụng của kỹ sư hãng cung cấp. Tham khảo hướng dẫn sử dụng hoặc nhãn sản phẩm được cung cấp cùng với máy tính, màn hình, máy in, hệ thống nước làm mát và khí nén để xác định những bộ phận nào mà người sử dụng có thể thao tác được. Sử dụng nguồn điện có điện thế không phù hợp, kết nối sai dây cấp điện của thiết bị hoặc không có dây nối đất có thể gây ra cháy nổ hoặc có khả năng gây điện giật và có thể gây hư hại nghiêm trọng thiết bị và các phụ kiện kèm theo.
Luôn sử dụng hệ thống điện có 3 dây, trong đó có một dây nối đất và hệ thống dây điện phải có công suất thích hợp với mức tải của hệ thống thiết bị.
Không được kết nối trực tiếp thiết bị với nguồn điện chính, chỉ kết nối khi đã kiểm tra điện thế làm việc đã được cài đặt ở thông số phù hợp với hoạt động của các thiết bị.
Hơi nóng, hơi và khói
Hơi nóng, hơi và khói sinh ra bởi ngọn lửa, lò nung và bộ hóa hơi trong kỹ thuật hóa hơi hydride, các nguồn này có thể gây nguy hiểm cho người vận hành thiết bị.
Hơi nóng, hơi và khói có thể được hút ra khỏi thiết bị bởi hệ thống hút khí thải. Thiết bị cần được kết nối vào hệ thống hút khí thải khép kín gồm có quạt hút và ống dẫn. Hệ thống hút phải chuyển các khí thải ra môi trường không khí bên ngoài, không được thải các khí thải của hệ thống này ra trong tòa nhà. Bố trí các ống xả thải sao cho các khí thải không thể tái xâm nhập vào tòa nhà thông qua bất kỳ cửa chính, cửa sổ, hệ thống điều hòa nhiệt độ hay bất kỳ hệ thống thoát khí nào khác. Xây dựng hệ thống phù hợp với các quy định về thoát khí thải tại địa phương.
Hệ thống thoát khí thải phải có khả năng cung cấp hiệu năng thoát khí với lưu lượng ít nhất là 6 m3/phút (200 cfm). Bố trí quạt hút khí ở độ cao cách ngọn lửa ít nhất 3 mét và gần cổng xả nhất có thể. Động cơ quạt hút cần phải được lắp đặt cách xa nguồn khí nóng và không sử dụng các phụ kiện bằng nhựa để tránh tan chảy do nhiệt độ. Đầu ra của ống xả thải cần được gắn van điều tiết thông gió một chiều. Trang bị công tắc nguồn của quạt hút khí tại nơi dễ phát hiện, có ký hiệu nổi bật chỉ rõ tình trạng hoạt động và gần thiết bị chính. Luôn  bật công tắc của quạt hút trước khi vận hành thiết bị.
Sử dụng ống thoát khí loại chống cháy theo tiêu chuẩn hiện hành tại nơi lắp đặt thiết bị. Bố trí hệ thống ống thoát khí cách xa hệ thống báo cháy, vòi chữa cháy tự động và các cảm biến nhiệt. Không được đặt các mối hàn trong phần ống thoát khi có tiếp xúc với khí thải nóng, vì nhiệt độ cao có thể làm chảy các mối hàn.
Định kỳ kiểm tra hệ thống bằng cách sử dụng khói màu để đảm bảo rằng hệ thống hút khí hoạt động.
Khi vận hành thiết bị quang phổ, luôn kiểm tra vị trí đặt ống khói để đảm bảo quá trình hút khí được thông suốt.
Khí nén và bình khí nén
Tất cả các loại khí nén (trừ không khí) đều có thể gây độc nếu chúng rò rỉ ra không khí xung quanh. Ngay cả khi chỉ rò rỉ một lượng nhỏ khí trong hệ thống cấp khí thì sự cố này cũng có thể gây nguy hiểm.
Bất kỳ sự rò rỉ nào (trừ không khí nén) cũng có thể gây cháy nổ, hoặc tạo môi trường nghèo oxy gây ngạt. Những mối nguy này có khả năng gây tử vong, chấn thương nghiêm trọng, gây ngạt, làm bất tỉnh và phá hủy các thiết bị cũng như tài sản.
Bình khí nén cần được lưu trữ và sử dụng theo đúng các quy định về an toàn trong lĩnh vực khí nén tại nơi sử dụng. Bình khí nén phải được lưu trữ và sử dụng theo chiều thẳng đứng. Bảo vệ các bình khí nén trong các giá đỡ hoặc chân đế sao cho các bình khí được cố định chắc chắn. Khu vực chứa bình khí nén cần phải có hệ thống thông gió phù hợp nhằm tránh tích tụ các khí độc hoặc khí gây cháy nổ. Luôn vận chuyển bình khí nén bằng xe đẩy chuyên dụng.
Giữ bình khí mát, đây là quy định chung cho tất cả các loại bình khí nén. Các bình khí có cơ cấu tự động giảm áp nếu nhiệt độ tăng cao quá 52 oC.
Đảm bảo các bình khí đều được dán nhãn rõ ràng, sao cho thể hiện rõ chủng loại khí nén trong bình. Nếu bình khí có nhãn dán không hợp lệ thì tuyệt đối không sử dụng và phản hồi ngay với nhà cung cấp. Cần phải đảm bảo rằng nhân viên vận hành biết rõ loại khí có trong bình trước khi kết nối bình khí với thiết bị.
Nếu không khí nén được cung cấp từ máy nén khí, cần phải loại bỏ toàn bộ hơi nước trước khi dòng khí đi vào các bộ phận sử dụng khí nén. Hơi nước trong không khí có thể ảnh hưởng đến các thiết bị trong bộ phận kiểm soát khí và có tiềm năng gây ra những mối nguy hại.
Chỉ sử dụng các đồng hồ, áp kế, ống dẫn và đầu chuyển đổi đúng chuẩn.
Không được tự ý nạp các bình khí nén.
Cần lưu ý rằng, đối với khí cháy, các ren của bình khí thuộc dạng ren trái. Các bình khí nén của các khí khác thì sử dụng ren phải.
Sau khi kết thúc quá trình vận hành thiết bị, hoặc vào cuối ngày làm việc, phải đảm bảo tất cả các nguồn cấp khí đã được khóa tại bình khí nén.
Ống dẫn khí và các đoạn nối
Ngay cả những lỗ rò nhỏ nhất trong hệ thống cấp khí cũng gây nguy hiểm. Bất kỳ sự rò rỉ nào cũng có thể gây cháy nổ hoặc tạo môi trường khí độc gây ngạt. Những mối nguy này có thể gây chết, chấn thương nghiêm trọng, gây bất tỉnh, gây ngạt và gây tổn hại đến các thiết bị, tài sản.
Chỉ sử dụng các loại van khí, áp kế, ống dẫn và co nối đúng tiêu chuẩn. Nếu có bất kỳ nghi ngờ nào về hệ thống khí, cần báo ngay cho đơn vị cung cấp hoặc đại diện của nhà sản xuất tại địa phương.
Kiểm tra kỹ để đảm bảo các khớp nối và ống dẫn đã được ráp đúng, không bị rò rỉ.
Bố trí các ống dẫn khí tại vị trí an toàn, tránh va đập hoặc bị dẫm lên.
Không sử dụng các ống khí đã hư hỏng hoặc bị bào mòn.
Định kỳ hàng ngày trước khi vận hành thiết bị, tiến hành kiểm tra rò rỉ tại các đầu nối và hàn kín các nơi bị rò. Có thể kiểm tra bằng cọ sơn và nước xà phòng hoặc dung dịch phát hiện rò rỉ. Không bao giờ được sử dụng lửa để kiểm tra rò khí.
Bức xạ cực tím
Bức xạ cực tím sinh ra bởi ngọn lửa, đèn catod rỗng, đèn D2. Bức xạ này gây những tổn thương nghiêm trọng đến mắt và da.
Luôn đeo kính chống bức xạ đạt tiêu chuẩn để bảo vệ mắt khỏi tia cực tím. Không bao giờ được nhìn trực tiếp vào ánh sáng phát ra từ đèn catod rỗng.
Khi sử dụng ngọn lửa, luôn vận hành thiết bị khi đã đóng tấm chắn lửa, bật quạt hút và gắn bảng đậy bộ phun sương.
 

Add comment


Security code
Refresh

Social Determinants Network

Who's online

Hiện có 100 khách Trực tuyến
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay169
mod_vvisit_counterHôm qua1753
mod_vvisit_counterTuần này13775
mod_vvisit_counterTuần trước26113
mod_vvisit_counterTháng này61297
mod_vvisit_counterTháng trước73810
mod_vvisit_counterTổng cộng10595974

Hôm nay : 24 - 09 - 2017